Viêm loét dạ dày dưới góc nhìn Đông y

Viêm và Loét dạ dày trước đây là hai khái niệm khác nhau, nhưng hơn 10 năm trở lại đây với những nghiên cứu cơ chế bệnh sinh và chẩn đoán cho thấy Viêm loét dạ dày tá tràng luôn liên kết, phối hợp liên quan chặt chẽ nhau. Đặc biệt, dưới góc nhìn Đông Y, Viêm loét dạ dày đã được các y gia xưa xây dựng nên các bài thuốc cổ phương, lưu truyền và duy trì điều trị có hiệu quả.

Triệu chứng phổ biến nhất của Viêm loét dạ dày là cảm giác đau âm ỉ hoặc bỏng rát. Cơn đau thường ở khu vực dưới xương ức và trên rốn, với những đặc điểm như:

  • Xảy ra khi đói, như giữa các bữa ăn hoặc ban đêm.
  • Sẽ giảm đau khi ăn hoặc dùng thuốc kháng acid.
  • Có thể kéo dài vài phút cho đến vài giờ.

Những triệu chứng ít gặp hơn có thể bao gồm: đầy hơi, ợ, cảm thấy khó chịu vùng thượng vị, thậm chí khó thở, ăn kém, buồn nôn hoặc nôn, giảm cân…

Nguyên nhân bệnh sinh viêm loét dạ dày – tá tràng được mô tả là hậu quả của sự mất cân bằng giữa một bên là yếu tố phá hủy niêm mạc dạ dày tăng và một bên là yếu tố bảo vệ niêm mạc dạ dày giảm.

Những nguyên nhân gây hoạt hóa yếu tố phá hủy niêm mạc dạ dày tá tràng gồm:

  • Sự căng thẳng Thần kinh do các stress tâm lý kéo dài gây nên trạng thái cường phó giao cảm mà hậu quả sẽ gây tăng tiết acid clorhydric (HCl), pepsin và tăng co bóp cơ trơn, gây xung huyết và phá hủy niêm mạc dạ dày.

  • Sự hiện diện của xoắn khuẩn Helicobacter Pylori (Hp) sẽ hủy hoại tế bào ở niêm mạc tá tràng, qua đó sẽ gây tăng tiết HCl.

Ngược lại, những nguyên nhân làm suy giảm yếu tố bảo vệ niêm mạc dạ dày lại là:

  • Sự căng thẳng thần kinh do các stress tâm lý kéo dài.
  • Rượu và các thuốc giảm đau chống viêm, đồng thời vừa làm tăng tiết HCl vừa hủy hoại tế bào niêm mạc dạ dày cũng như làm giảm sự sinh sản tế bào niêm mạc dạ dày.
  • Vai trò tưới máu của hệ mao mạch dạ dày – tá tràng đối với sự bền vững của hàng rào niêm mạc dạ dày, theo đó sự xơ vữa hệ mao mạch dạ dày tá tràng do gốc tự do, sẽ làm cản trở sự tưới máu niêm mạc dạ dày là lý do tại sao có nhiều ổ loét to và bất trị ở người có tuổi.
  • Xoắn khuẩn Helicobacter Pylori (Hp) ở niêm mạc dạ dày – tá tràng vừa cản trở sự tổng hợp chất nhày, vừa làm biến đổi cấu trúc phân tử chất nhầy, khiến cho lớp chất nhầy dễ bị tiêu hủy bởi pepsin.
  • Vai trò của thuốc lá gia tăng sự thoát dịch vị vào tá tràng, đồng thời tạo nên các gốc tự do gây tổn hại đến niêm mạc dạ dày tá tràng.

Với các mô tả trên về bệnh viêm loét dạ dày tá tràng, Đông y có chứng Vị quản thống có biểu hiện tương ứng về nguyên nhân – bệnh sinh và triệu chứng như:

  • Những căng thẳng tâm lý kéo dài như giận dữ, uất ức, khiến cho chức năng sơ tiết của tạng Can (Mộc) bị ảnh hưởng, từ đó cản trở tới chức năng giáng nạp thuỷ cốc, gây ra đau tức hoặc nóng rát vùng thượng vị, lan ra hông sườn, có thể kèm theo ợ hơi, ợ chua, hơi thở hôi…
  • Những căng thẳng tâm lý kéo dài như lo nghĩ, toan tính quá mức, đồng thời ăn uống đói no thất thường sẽ tác động xấu tới chức năng kiện vận của Tỳ (Thổ) và phân thanh giáng trọc của Vị, biểu hiện đau vùng thượng vị âm ỉ, đầy bụng, khó tiêu, nôn thức ăn chua đắng, nặng hơn có thể đi cầu phân đen…

Trên cơ sở đó, ăn uống không điều độ, thời tiết lạnh hoặc thức ăn sống – lạnh, mà YHCT gọi là hàn tà sẽ là yếu tố làm khởi phát cơn đau. Trong giai đoạn đầu, bệnh lý thường biểu hiện bệnh cảnh Khí uất (trệ), Hỏa uất hoặc Huyết ứ; nhưng về sau do khí suy, huyết kém sẽ diễn tiến thành bệnh cảnh Tỳ vị hư hàn.

Từ đó, chúng ta thấy rằng cả Đông hay Tây Y đều đề cập Viêm Loét dạ dày tá tràng là bệnh Tâm Thể, trong đó yếu tố tâm lý – tinh thần (như áp lực, stress, buồn…) đều được hai nền Y học Đông và Tây nhấn mạnh trong cơ chế bệnh sinh. Chính vì vậy, việc điều trị ngoài sử dụng các loại kháng sinh nếu do vi khuẩn HP, các thuốc chống tiết acid bảo vệ niêm mạc dạ dày, kiêng rượu, thuốc lá, hạn chế sử dụng các loại thuốc kháng viêm – giảm đau (nếu cần thiết phải dùng thì phải có kế hoạch bảo vệ niêm mạc dạ dày), người ta còn chú ý đến yếu tố tâm lý – tinh thần, đây cũng là nguyên nhân chính vừa gây bệnh, vừa duy trì sự tái phát của bệnh.

Điều trị viêm loét dạ dày tá tràng theo Đông y tùy thuộc vào biểu hiện bệnh lý, có thể sử dụng phối hợp các phương pháp không dùng thuốc như Dưỡng sinh, Châm cứu và dùng thuốc. Trong phạm vi bài báo này, chúng ta chia sẻ về việc dùng thuốc từ dược liệu.

Điều trị bằng các bài thuốc cổ phương

Mỗi biểu hiện bệnh lý, các y gia xưa đã xây dựng nên các bài thuốc cổ phương, lưu truyền và duy trì điều trị bao gồm:

  • Khí uất (trệ): Với triệu chứng đau thượng vị từng cơn lan ra hai bên hông sườn kèm ợ hơi, ợ chua, táo bón. Yếu tố khởi phát cơn đau thường là nóng giận, cáu gắt. Tính tình hay gắt gỏng, rìa lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhầy, mạch huyền hữu lực. Thường được sử dụng các bài thuốc như Sài hồ sơ can hay Tiêu dao gia uất kim gồm các dược liệu như Sài hồ, Bạch thược, Bạch linh, Bạch truật, Đương quy, Cam thảo, uất kim, nhằm mục đích an thần, chống co thắt cơ trơn tiêu hoá và chống tiết HCl dịch vị, trung hoà acid…
  • Hỏa uất: Với tính chất đau dữ dội, nóng rát vùng thượng vị, nôn mửa ra thức ăn chua đắng, hơi thở hôi, miệng đắng, lưỡi đỏ sẫm, mạch hồng sác. Dùng bài thuốc Hương phụ, Cúc tần, Thủy xương bồ, Mã đề, Nghệ vàng, Bối mẫu, Nhân trần, Chi tử, Bồ công anh, với mục đích chống co thắt, chống tiết HCl, kháng sinh, kháng viêm bằng cơ chế liền thành mạch.

  • Huyết ứ: Đau khu trú ở vùng thượng vị, cảm giác châm chích, chất lưỡi đỏ tím hoặc có điểm huyết ứ, mạch hoạt. Nặng hơn thì đi cầu phân đen hoặc nôn ra máu bầm. Thường được sử dụng bài thuốc Tứ vật đào hồng gồm Xuyên khung, Đương quy, Thục địa, Bạch thược, Đào nhân, Hồng hoa, Hương phụ chế gia thêm Cỏ mực, Trắc bá diệp sao đen.
  • Tỳ vị hư hàn: Hay gặp ở Viêm loét dạ dày – tá tràng mạn tính, tái phát nhiều lần hoặc ở người già với triệu chứng đau vùng thượng vị mang tính chất âm ỉ liên tục hoặc cảm giác đầy trướng bụng sau khi ăn. Yếu tố khởi phát thường là mùa lạnh hoặc thức ăn tanh lạnh làm đau tăng. Triệu chứng đi kèm là chán ăn, buồn nôn, phân có lúc lỏng, sệt, nhầy nhớt, lưỡi nhợt bệu, rêu lưỡi trắng dày nhớt, mạch nhu hoãn vô lực. Bài thuốc tiêu biểu như Hoàng kỳ kiến trung gồm các vị thuốc Hoàng kỳ, Can khương, Cam thảo chích mật, Hương phụ chế, Bạch thược, Cao lương khương, Đại táo, nhằm mục đích kích thích tiết dịch vị, điều hòa nhu động dạ dày ruột, cải thiện tuần hoàn niêm mạc dạ dày, kích thích tổng hợp glucoprotein và prostaglandin.

Trên đây là các bài thuốc tiêu biểu trong nhiều bài thuốc khác nhau được cấu tạo điều trị trên từng cơ địa khác nhau trên cơ sở dược lý Y học cổ truyền. Cho đến nay, nhằm tìm hiểu cơ sở khoa học của các bài thuốc và vị thuốc ấy, các nhà khoa học từng bước đã nghiên cứu:

Các thảo dược có hoạt tính chống loét

Trong các nghiên cứu chiết xuất thảo dược, họ Cúc (Asteraceae) tiếp theo là họ Bàng (Combretaceae) và họ Đậu (Fabaceae) thường được nghiên cứu nhất và được báo cáo có tác dụng lành vết loét, chống oxi hóa, chống viêm, bảo vệ tế bào, ức chế tiết dạ dày, cải thiện sản xuất chất nhầy, kháng tiết và kháng H. pylori. Cụ thể các dược liệu có các tác dụng nêu trên như Mã đề, Rau má, Chùm ngây, Cẩu tích, Tô mộc, Hương phụ, Chiêu liêu, Cà dại hoa vàng, lá bỏng…

Các dược thảo có hoạt tính kháng tiết acid

Cơ chế ức chế tiết acid của các thảo dược bao gồm các dược thảo như: Hoàng liên ô rô, Lu lu đực, Lá khôi, Cam thảo…

Nghiên cứu các bài thuốc điều trị viêm dạ dày

Các bài thuốc cổ phương cũng đã được nghiên cứu khẳng định tác dụng trong điều trị Viêm loét dạ dày tá tràng:

  • Danan Gan và cộng sự (2017) đã thực hiện một nghiên tổng hợp về các thử nghiệm lâm sàng trên tác dụng của Tứ quân tử thang trong điều trị viêm teo dạ dày. Kết quả cho thấy Tứ quân kết hợp với điều trị Tây y thường quy làm tăng tỉ lệ cải thiện triệu chứng lâm sàng.
  • Yue Wei và cộng sự (2015) ghi nhận Hoàng kỳ kiến trung thang kết hợp phác đồ Tây y thường quy hiệu quả hơn so với dùng phác đồ Tây y đơn độc. Hoàng kỳ kiến trung thang cộng với kháng sinh làm tăng hiệu quả tiệt trừ H. pylori so với kháng sinh đơn độc.
  • Feng Qin và công sự (2013) cho thấy trong điều trị viêm dạ dày mạn tính, khi kết hợp với thuốc Tây y, Sài hồ sơ can thang giúp cải thiện đáp ứng lâm sàng của viêm dạ dày do trào acid mật, viêm dạ dày mạn nông, viêm dạ dày mạn teo, viêm loét dạ dày… nhiều hơn so với chỉ điều trị thuốc Tây y.
  • Wen-jie Fang và cộng sự (2017) cho thấy trong điều trị viêm teo dạ dày, thuốc YHCT dùng đơn độc hoặc kết hợp thuốc Tây y có lợi ích hơn so với thuốc Tây y trong cải thiện triệu chứng lâm sàng. Tuy nhiên, hiệu quả tiệt trừ Hp của thuốc YHCT chưa được khẳng định do có nhiều khác biệt lớn giữa các nghiên cứu được đưa vào phân tích.

Thông qua nghiên cứu các loại dược liệu và cả các bài thuốc tiêu biểu trong điều trị Viêm loét dạ dày tá tràng, chúng ta thấy rằng thuốc từ thảo dược có cơ chế tác dụng không khác gì so với thuốc Tây Y, hơn nữa còn tiềm ẩn nhiều giá trị chưa được minh chứng đầy đủ như khả năng tái phát, bổ dưỡng như cơ sở lý luận của Đông y.

Điều trị dứt điểm Viêm loét dạ dày tá tràng, một bệnh lý Tâm – Thể, không đơn giản. Người bệnh ngoài việc tuân thủ phác đồ dùng thuốc, còn cần chú ý đến chế độ ăn uống, ăn đúng bữa, ăn chậm nhai kỹ, uống nước ấm, kiêng rượu, thuốc lá, chất kích thích và áp dụng các phương pháp tập luyện, thư giãn, xoa tam tiêu. Đồng thời khi mắc các bệnh khác chú ý đến việc dùng thuốc nhất là các loại giảm đau – kháng viêm có thể gây kích ứng dạ dày làm tái phát bệnh.

PGS. TS. BS Nguyễn Thị Bay

– Nguyên Trưởng bộ môn Bệnh học

Khoa Y học cổ truyền, ĐH Y dược TP. HCM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *